Bỏ qua, đến nội dung chính
KTXDTư vấn Kinh tế Xây dựng
Quản lý chi phí

Tổng mức đầu tư xây dựng gồm những gì, hay thiếu ở đâu

Phân tích cấu trúc tổng mức đầu tư xây dựng, những khoản chi phí thường bị bỏ sót khi lập, và cách kiểm tra nhanh một tổng mức đầu tư đã lập đủ hay chưa.

Ban chuyên môn KTXDĐăng

Lưu ý khi áp dụng: Bài viết có dẫn chiếu quy định pháp luật về xây dựng. Các văn bản này được sửa đổi thường xuyên — vui lòng đối chiếu bản đang có hiệu lực tại thời điểm bạn áp dụng, hoặc liên hệ chúng tôi để được xác nhận cho trường hợp cụ thể của bạn.

Nội dung bài viết
  1. 01Cấu trúc cơ bản
  2. 02Bốn khoản hay bị tính thiếu
  3. 03Cách kiểm tra nhanh một tổng mức đầu tư
  4. 04Nên nhớ

Tổng mức đầu tư là con số quyết định toàn bộ khuôn khổ tài chính của một dự án. Lập thiếu thì dự án vượt tổng mức và phải làm thủ tục điều chỉnh. Lập thừa quá nhiều thì khó được phê duyệt, hoặc bị đánh giá là chưa tính toán kỹ.

Bài này đi vào phần thực tế: cấu trúc gồm những gì, và trong thực hành thì khoản nào hay bị bỏ sót nhất.

Cấu trúc cơ bản

Tổng mức đầu tư của một dự án xây dựng thông thường bao gồm các nhóm chi phí sau:

Nhóm chi phí Nội dung chính
Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Chi phí liên quan đến giải phóng mặt bằng, di dời hạ tầng
Xây dựng Chi phí xây dựng công trình, hạng mục công trình và công tác phụ trợ
Thiết bị Mua sắm, lắp đặt, đào tạo vận hành, chạy thử
Quản lý dự án Chi phí tổ chức quản lý của chủ đầu tư trong suốt quá trình
Tư vấn đầu tư xây dựng Khảo sát, thiết kế, giám sát, thẩm tra và các dịch vụ tư vấn khác
Chi phí khác Các khoản không thuộc các nhóm trên nhưng cần thiết cho dự án
Dự phòng Dự phòng cho khối lượng phát sinh và cho yếu tố trượt giá

Lưu ý về căn cứ pháp lý: Cách phân loại và phương pháp xác định từng nhóm chi phí được quy định trong văn bản pháp luật về quản lý chi phí đầu tư xây dựng. Các văn bản này được sửa đổi khá thường xuyên, vì vậy khi áp dụng thực tế bạn cần đối chiếu bản đang có hiệu lực tại thời điểm lập.

Bốn khoản hay bị tính thiếu

1. Dự phòng cho yếu tố trượt giá

Đây là khoản bị xử lý sơ sài nhiều nhất. Không ít hồ sơ chỉ lấy một tỷ lệ phần trăm quen dùng mà không gắn với thời gian thực hiện dự án và mức biến động giá dự kiến.

Với dự án kéo dài nhiều năm, cách làm này gần như chắc chắn dẫn tới thiếu hụt. Dự phòng trượt giá phải được tính trên tiến độ giải ngân dự kiến theo từng năm, không phải trên tổng số một lần.

2. Chi phí hoàn trả và tái lập hiện trạng

Các công tác như hoàn trả mặt đường sau khi thi công hạ tầng ngầm, tái lập cảnh quan, di dời và hoàn trả hạ tầng kỹ thuật của đơn vị khác. Những khoản này không xuất hiện trên bản vẽ thiết kế chính nên rất dễ bị bỏ qua ở bước lập tổng mức.

3. Chi phí liên quan đến biện pháp thi công đặc thù

Khi công trình nằm trong khu vực chật hẹp, gần công trình hiện hữu, hoặc phải thi công ngoài giờ để hạn chế ảnh hưởng, chi phí biện pháp thi công tăng đáng kể so với điều kiện thông thường. Nếu lập tổng mức dựa trên suất vốn đầu tư bình quân, phần chênh này không được phản ánh.

4. Chi phí trong giai đoạn chuẩn bị khai thác

Đào tạo vận hành, chạy thử có tải, chi phí điện nước trong thời gian chạy thử, và chi phí cho giai đoạn chuyển tiếp trước khi công trình đi vào hoạt động ổn định.

Cách kiểm tra nhanh một tổng mức đầu tư

Nếu bạn cần đánh giá sơ bộ một hồ sơ tổng mức đầu tư do đơn vị khác lập, bốn câu hỏi sau sẽ lộ ra phần lớn vấn đề:

  1. Dự phòng trượt giá được tính trên cơ sở nào? Nếu câu trả lời là một tỷ lệ phần trăm không kèm giải thích, đây là điểm cần xem lại đầu tiên.
  2. Chi phí xây dựng dựa trên khối lượng bóc tách hay trên suất vốn đầu tư? Bóc tách cho kết quả đáng tin hơn nhiều, nhưng cần có thiết kế đủ chi tiết.
  3. Có khoản nào cho công tác hoàn trả, tái lập hiện trạng không? Nếu dự án có can thiệp vào hạ tầng hiện hữu mà không có khoản này, chắc chắn thiếu.
  4. Thời gian thực hiện dự kiến là bao lâu, và giả thiết về giá được lấy ở thời điểm nào? Một tổng mức lập trên giá của hai năm trước không còn dùng được.

Nên nhớ

Tổng mức đầu tư không phải một con số đơn lẻ mà là kết quả của một tập hợp giả thiết. Giá trị của hồ sơ nằm ở chỗ các giả thiết đó có được nêu rõ ràng hay không.

Một tổng mức đầu tư kèm thuyết minh chỉ rõ “giả thiết thời gian thực hiện 30 tháng, giá vật liệu tại thời điểm tháng 6, dự phòng trượt giá tính theo tiến độ giải ngân từng năm” có giá trị sử dụng cao hơn nhiều so với một bảng số không giải thích gì — kể cả khi hai bảng cho ra con số gần như nhau.

Chủ đề:tổng mức đầu tưquản lý chi phídự toán